khóc ông phủ vĩnh tường

Thơ văn Cập nhật 25/05/2015 12:00:00 SA Khóc ông phủ Vĩnh Tường Trăm năm ông phủ Vĩnh - Tường ơi Cái nợ ba sinh đã giả rồi Chôn chặt văn chương ba thước đất Ném tung hồ thỉ bốn phương trời Cán cân tạo hoá rơi đâu mất Miệng túi tàn khôn thắt chặt rồi Hai bảy tháng trời là mấy chốc Trăm năm ông phủ Vĩnh-Tường ơi. khóc tổng cóc ông phủ vĩnh tường Với kinh nghiệm bản thân sau hai lần lập gia đình với Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường bà thấy rõ chế độ đa thê rất phổ biến trong xã hội phong kiến là một sự bất công của xã hội phụ quyền. Đàn ông thì năm thê, bảy thiếp trong khi đó đàn bà phải chính chuyên một Năm 1831, Huỳnh Mẫn Đạt đỗ cử nhân khoa Tân Mão ( 1831) Minh Mạng thứ 31. Sau khi đỗ cử nhân, ông ra làm quan dưới triều Tự Đức. Năm 1861, thực dân Pháp hạ đồn Chí Hòa và đánh Định Tường. Lúc ấy, ông đang làm Án sát Định Tường, đã cùng tuần phủ và tổng đốc Cách Vay Tiền Trên Momo. Truyền thuyết về bà nói rằng bà đã yêu vị hôn phu thứ nhất này, viên tuần phủ của vùng Vĩnh Tường. 100 năm là câu nói ước định cho đời người; 27 tháng là tất cả những gì họ có với nhau. Nhưng Hoàng Xuân Hãn biện minh rằng ông phủ này không thể nào là chồng của bà được. Nợ ba sinh là "món nợ tình phải trả trong ba kiếp ba hoá thân liên tiếp." Bài thơ này lấy dạng lời than khóc đám Vĩnh Tường quan Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!1 Cái nợ ba sinh đã trả rồi2 Chôn chặt văn chương ba tấc đất3 Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.4 Cán cân tạo hoá rơi đâu mất?5 Miệng túi tàn khôn khép lại rồi.6 Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc.7 Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi! Bản khắc năm 1914 Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi, Cái nợ phù sinh có thế thôi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Ném tung hồ thỉ bốn phương trời. Nắm xương dưới đất chau mày khóc, Hòn máu trên tay mỉm miệng cười. Đã thế thời thôi cho mát mẻ, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi Khảo dị Bản khắc 1922Khấp quan phủ Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi, Cái nợ ‡ ba sinh ‡ đã trả rồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Tung hê hồ thỉ bốn phương trời. Cán cân tạo hoá rơi đâu mất, Miệng túi càn khôn thắt lại rồi. Hăm bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Quốc văn tùng ký Khóc ông phủ Vĩnh Tường Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi, Cái nợ ‡ ba sinh ‡ đã trả rồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Tung hê hồ thỉ bốn phương trời. Hạt sương dưới ‡ chiếu cau mày khóc, Giọt máu trên tay mỉm miệng cười. Năm bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Xuân Hương thi sao Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi, Thân thể coi xem đã khác rồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Ném tung hồ thỉ bốn phương trời. Nắm xương dưới đất chau mày khóc, Miệng túi càn khôn thắt lại thôi. Một tháng mấy ngày nên nỗi thế, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Tạp thảo tập Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi, Thân thể coi xem đã khác rồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Ném tung hồ thỉ bốn phương trời. Nắm xương dưới đất chau mày khóc, Miệng túi càn khôn thắt lại thôi. Một tháng mấy ngày nên nỗi thế, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Quế Sơn thi tậpVô đề 10 Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi, Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Phá tan hồ thỉ bốn phương trời. Nắm xương dưới đất chau mày khóc, Hòn máu trên tay mỉm miệng cười. Vì chữ tình chung nên phải viếng, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Xuân Hương thi vịnh Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ Ngàn năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi, Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Ném tung hồ thỉ bốn phương trời. Cán cân tạo hoá rơi đâu mất, Miệng túi càn khôn thắt lại rồi. Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ, Ngàn năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Bản Đăng khoa lục sưu giảngĐiếu quan phủ Vĩnh Tường Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi, Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi. Chôn chặt văn chương ba thước đất, Ném tung hồ thỉ bốn phương trời. Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc, Chảy máu trên tay mỉm miệng cười. Phúc quả công danh phó trả trời, Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi. Nguồn Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, NXB Văn học, 2008 Chú thích 1 Vĩnh Tường Phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Vĩnh Yên xưa, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Nhiều giai thoại đều thống nhất về việc Hồ Xuân Hương có lấy lẽ ông phủ Vĩnh Tường. 2 Nợ ba sinh Nhân duyên vợ chồng trải qua ba kiếp; sống là một sự trả nợ lẫn nhau theo Phật giáo. Nợ ba sinh đã trả tức là chỉ người chồng đã chết. 3-4 Ông phủ Vĩnh Tường là một người có học vấn văn chương nay mất đi, Hồ Xuân Hương mất một người chồng và cũng mất luôn cả một người bạn văn chương. Hồ thỉ cung và tên, tượng trưng cho chí nam nhi hoặc chí làm trai vốn ở bốn phương trời, không chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình vợ con. 5-6 Ông trời là người cầm cân nảy mực đã ở chẳng công bằng, cán cân của ông đã đánh rơi. Càn khôn tức trời đất ví như một cái túi lớn đã khép hẳn lại. Ông Phủ đã đi sang một thế giới khác. 7 Hồ Xuân Hương sống với chồng trong một thời gian quá ngắn 27 tháng. Chỉnh sửa cuối 16 Tháng mười 2022 hồ xuân hương thơ Văn thư lưu trữ mở Wikisource Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếmKhóc ông phủ Vĩnh Tường của Hồ Xuân Hương Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi! Cái nợ ba sinh đã trả rồi. Chôn chặt văn chuơng ba thước đất, Tung hê hồ thỉ bốn phương trời. Cán cân tạo hóa rơi đâu mất, Miệng túi càn khôn khép lại thôi. Hăm bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi! Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1928, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước. Lấy từ “ Thể loại PVCC-cũThơ NômThất ngôn bát cú Tập thơ bản gốc, chỉ có duy nhất 1 bản, bị thất lạc nhiều năm, rất may, theo một nguồn tin mà tôi được biết, Viện Văn học Việt Nam đã tìm lại được. Theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại, thì chữ Lưu có bộ ngọc ở bên, chỉ quê hương Quỳnh Lưu, không phải là lưu biệt hay lưu truyền, còn Hương là tên tác giả Hồ Xuân Hương. Vậy đây là thơ của người Quỳnh Lưu tên là Xuân Hương, đã được ký ghi lại. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại khẳng định “LHK là một tài liệu chân chính, đáng tin cậy và trong trường hợp này, không thể có vấn đề, có kẻ nào đó muốn chơi khăm, làm ra tài liệu giả mạo để đánh lạc hướng nghiên cứu của chúng ta”. LHK và lai lịch phát hiện nó - Trần Thanh Mại, toàn tập, tập III, Nhà xuất bản Văn học, 2004 .Tượng đài nữ sĩ Hồ Xuân Hương được đặt tại khu đền thờ của dòng họ Hồ tại làng Quỳnh Lưu, Nghệ đây, báo Văn Nghệ số ra ngày 26/5/2018 có đăng bài của nhà thơ Thạch Quỳ “Về bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường của Hồ Xuân Hương”. Trong bài này, ông Thạch Quỳ đã có một nhận xét rất đúng và rất đáng chú ý “Rõ ràng là đang có vấn đề khúc mắc và chưa hợp lý ở đây!”. Ông nhận ra như thế, nhưng cách lý giải của ông trong việc tìm ra ngọn nguồn bài thơ lại có tính suy đoán. Mà ông cũng nói rõ ràng là ông chỉ suy đoán có thể là như vậy thôi. Vì ông được coi là ông phủ Vĩnh Tường đã chết vì án tử hình năm 1819, mà 3 năm sau, năm 1822, mới có tên phủ Vĩnh Tường. Hay là bà HXH trở về nơi có tên mới là phủ Vĩnh Tường sau năm 1822?Ông Thạch Quỳ thấy trong tập thơ LHK của HXH không có bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường, thực ra, toàn bộ thơ Nôm được truyền tụng và được coi là của HXH, số này theo các tài liệu biên khảo là non 200 bài, sau thu lại còn khoảng 50 - 60 bài, với khoảng 130 dị bản - vì là thơ dân gian, mỗi nơi, mỗi người, chép mỗi khác, rồi cứ thế mà đem in, do bán rất chạy - trong đó có khoảng 20-30 bài được in đi in lại nhiều lần, coi là “bản chính thức của thơ Nôm truyền tụng HXH”. Tất cả đều có một nét chung là nói về “cái ấy” và “chuyện ấy”…. và đều không có trong LHK. Và những dấu ấn đó được coi là “độc đáo, kỳ lạ”, mà trong công trình nghiên cứu của nhà thơ Xuân Diệu, viết và sửa trong 22 năm 1958 - 1980 HXH Bà Chúa thơ Nôm có đoạn, Xuân Diệu viết “hiện tượng độc đáo kỳ lạ, có thể nói là có một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ” trang 377- 378, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học, 1988 - tác phẩm đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, đợt 1 năm 1996. Sách Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, Trung tâm Từ điển học và Nhà xuất bản Đà Nẵng, in năm 2002, do GS. Hoàng Phê chủ biên, có bút tích của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, giải nghĩa Kĩ nữ là gái mại dâm là làm đĩ. Còn nhà thơ họ Hồ Quỳnh Đôi không phải là “kỹ nữ” thì đã rõ, không cần phải bàn. Trong bài Tựa của Tốn Phong in ở đầu tập LHK, HXH nói với Tốn Phong rằng “Đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay, nhờ ông viết cho một bài tựa”. Vậy theo lời của chính HXH thì bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường và tất cả các bài thơ Nôm truyền tụng đã nói trên, vẫn gán cho bà - những bài hoàn toàn không có trong tập LHK - là không phải thơ của bà vậy. Đánh giá thơ bà mà lại cứ tự ý và đơn phương gạt bỏ ý kiến xác nhận bản quyền của chính tác giả là rất buồn cười và hoàn toàn không khoa học. Đây cũng chính là việc chúng ta cần làm, để trả lại giá trị đích thực cho bà, minh oan cho bà là bà không từng là kỹ nữ, ở trong các “nhà chứa”, trong các “lầu xanh”, như một số sách giai thoại và biên khảo trước đó đã in ra, từ trước và sau năm 1913, mà Xuân Diệu căn cứ vào đó để viết đoạn văn đã dẫn ông “phủ Vĩnh Tường” là ai? Là ông Trần Phúc Hiển, chồng bà HXH, từng làm quan Tham hiệp trấn Yên Quảng tỉnh Quảng Ninh hiện nay bị tử hình năm 1819 vì tội ăn hối lộ 700 quan tiền, trong việc giải quyết đất đai tại châu Hải Ninh, thuộc trấn/tỉnh này. Năm 1822 phủ Tam Đái nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc mà ông Hiển từng làm quan ở đó 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy ông Hiển “không liên quan gì đến hai chữ Vĩnh Tường”, ông Thạch Quỳ nói đúng. Xin lưu ý, năm 1822, cũng chính là năm bà HXH mất theo bia đá dựng ở đầu làng bà ở Nghệ An, ghi rõ bà mất năm 1822 thì rất có thể, chính bà HXH cũng không hề biết có phủ tên là phủ Vĩnh Tường. Và như thế, bà HXH cũng “không liên quan gì đến hai chữ Vĩnh Tường”.Ông Tốn Phong nhận xét Thơ HXH “xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng...”. Đọc lời Tựa LHK mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ HXH, tháng 3 năm 1814, như thế là rất chuẩn xác. Xin hãy đọc toàn bộ LHK để thấy HXH “học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép tắc mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ”, như nhận xét rất đúng của Tốn Phong. Tuyệt đối không có bất cứ một câu nào, một chữ nào, hay một “ý tại ngôn ngoại” nào… ngay cả kẻ gian dâm có đọc thơ bà trong tập đúng là của bà này, cũng không bao giờ thấy váng vất “cái ấy” và “chuyện ấy”, với nhiều góc nhìn cận cảnh và các động tác cụ thể chỉ có ở “cánh mày râu”… Thơ thật của bà, đúng như ông Tốn Phong đã khẳng định giá trị, hoàn toàn không phải thế. Đẳng cấp xã hội phải là quý tộc và phẩm chất thơ của bà phải như thế nào có văn hóa cao, hào hoa trang nhã - đúng như nó đã có trong LHK - mới được Tùng Thiện vương Miên Thẩm, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị, cháu nội vua Gia Long nhà Nguyễn, chú ý, đọc và viết về bà những dòng thơ rất trân trọng và đồng cảm như trong bài Long Biên trúc chi từ 1842 mà nhiều người đã biết. Và tôi tin, tác giả LHK nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã khẳng định “LHK là một tài liệu chân chính” - đã dẫn ở trên, dứt khoát không thể viết những câu rất mất vệ sinh “Chành ra ba góc, da còn thiếu”/“Trưa trật nào ai móc kẽ rêu“/“Dưới khe nước rỉ mó lam nham…” vân vân và vân vân…, vì 2 loại thơ này, trái ngược nhau như nước với lửa. Đây là thơ Nôm dân gian đầu thế kỷ XX, sớm nhất cũng là cuối thế kỷ XIX - nghĩa là sau khi bà đã mất từ 50 - 60 năm đến non 100 năm, mới có năm 1842, khi Tùng Thiện vương viết Long Biên trúc chi từ, chắc chắn chưa có - với ngụ ý chống mọi lề thói phong kiến cổ hủ ràng buộc con người và thói đạo đức giả “Ban ngày quan lớn như thần/Ban đêm quan lớn lần mần như ma” mà có người cho là thơ của Nguyễn Công Trứ, thời Nguyễn. Bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường… nằm trong số ấy. Tôi rất tin là không bao giờ có một bà vợ, dù ngu độn hoặc dở người đến mấy, lại khóc chồng chưa kể chồng chết vì tội phải tử hình mà khóc là cái “cán cân tạo hóa” của ông đã rơi mất và cái “miệng túi càn khôn” của tôi đã khép lại từ lúc ông chết rồi… rất thiếu văn hóa và vô cùng phản cảm… chúng ta đều biết hai cái đó là cái gì rồi; bây giờ trong gia đình của bất cứ ai, nếu có một bà vợ khóc chồng chết mà khóc như thế, liệu anh em con cháu nhà chồng có để cho bà ta yên không? Gán bài thơ này cho bà, vô hình trung, chúng ta đã xúc phạm bà. Còn thơ dân gian thì lại khác, hoàn toàn khác. Nhưng ta không bàn điều đó tại đó tôi nghĩ, đây là thơ dân gian như nhà nghiên cứu rất đáng kính Trần Thanh Mại đã viết, đó là thơ “nhảm nhí” của “đám mày râu chúng ta”, làm ra cho vui, qua sự nhuận sắc và truyền bá của các ông đồ, rồi cứ thế mà gán cho bà. Tất nhiên, về ý thức phản phong và giá trị nghệ thuật, nó phải thật sự có giá trị thì mới tồn tại được cùng với Truyện Trạng Quỳnh và Truyện Trạng Lợn… Bây giờ đã ở thế kỷ XXI, với tầm trí tuệ của ngày hôm nay, cái điều “uẩn khúc và chưa hợp lý” này, đã có thể làm rõ và kết thúc được rồi. Vấn đề chỉ còn ở chỗ, ta có “dám” kết thúc nó hay không mà thôi, bởi nó đã được Giáo sư Lê Tâm đưa vào sách giáo khoa từ năm 1950 và từ đó tồn tại đến nay, đã trải qua rất nhiều thế hệ. Nhưng tôi rất tin, vấn đề này sẽ được giải quyết dứt điểm và sòng phẳng trên tinh thần khoa học, chỉ còn là thời gian, sớm hơn hay muộn hơn mà thôi.

khóc ông phủ vĩnh tường